:: TRUNG TÂM BẢO TỒN DI SẢN - DI TÍCH TỈNH QUẢNG NAM ::
 TÌM KIẾM
 
  .::. TRANG CHỦ
  GIỚI THIỆU                       
  BẢO TỒN DS-DT              
  HỢP TÁC - ĐẦU TƯ          
  NGHIÊN CỨU - ĐÀO TẠO
  :: DI SẢN - DI TÍCH
  DI SẢN VĂN HÓA THẾ GIỚI
 KHU ĐỀN THÁP MỸ SƠN     
 ĐÔ THỊ CỔ HỘI AN               
  DI TÍCH CHĂM
 CHIÊN ĐÀN                          
 KHƯƠNG MỸ                     
 ĐỒNG DƯƠNG                   
 BẰNG AN                           
 CÁC DI TÍCH, PHẾ TÍCH KHÁC
 :: TIỆN ÍCH
 
 
 
 
  DI SẢN DI TÍCH ›› KHU ĐỀN THÁP MỸ SƠN
 

KHU ĐỀN THÁP MỸ SƠN

Tại một thung lũng có bán kính khoảng 2 km gần làng Mỹ Sơn, thuộc tổng An Hoà, huyện Duy Xuyên (nay là xã Duy Phú, huyện Duy Xuyên), cách thành phố Đà Nẵng khoảng 70km về phía tây nam, vào năm 1885, một toán lính Pháp đã tình cờ phát hiện được khu tháp Chăm bị bao phủ bởi cây rừng, nằm ở tọa độ 15046/ vĩ Bắc và 108007/ kinh Đông. Năm 1895, C.Paris cho phát quang dọn dẹp khu tháp này. Năm 1898-1899, hai học giả Pháp là L.Finot và L.De Lajonquiere đã đến Mỹ Sơn để nghiên cứu các văn bia, họ đã thống kê được khoảng 32 bi ký (chiếm hơn 1/5 trong tổng số các bi ký  của Vương Quốc Chămpa đã được phát hiện), trong đó có 16 bi ký cho biết tương đối chính xác niên đại của một số di tích. Năm 1901, H.Parmentier - một kiến trúc sư kiêm nhà khảo cổ - đã đến nghiên cứu về kiến trúc và nghệ thuật. Những công trình nghiên cứu đầu tiên về bi ký và kiến trúc tại Mỹ Sơn đã được công bố trong kỷ yếu của Viện Viễn Đông Bác Cổ Pháp (B.E.F.E.O) năm 1904.
- Tiếp sau đó là những công trình nghiên cứu của Ph.Stern, J.Boisselier..., mà những tác phẩm của họ đã trở thành những tài liệu cơ bản nhất cho các nhà nghiên cứu về văn hóa Chămpa sau này.
- Theo nội dung một tấm bia có niên đại khá sớm ở Mỹ Sơn cho biết, vào khoảng cuối thế kỷ IV, vua Bhadravarman đã cho xây dựng một ngôi đền bằng gỗ để thờ thần Siva-Bhadresvara, trong văn bia có đoạn: "Bhadravarman dâng cho thần một vùng đất vĩnh viễn; phía Đông là núi Sulaha, phía nam là đại Sơn Mahaparvata, phía tây là núi Kucaka, phía bắc là... (làm giới hạn). Ruộng đất trong phạm vi đó thì dâng với cả dân cư. Hoa lợi của khu đất này thì phải dâng lên thần... (1). Cho đến nay, người ta vẫn chưa thể biết rõ số lượng cũng như kiểu dáng các ngôi đền được xây dựng tại Mỹ Sơn trước thế kỷ VII, bởi lẽ chúng đã bị thiêu huỷ toàn bộ vào khoảng cuối thế kỷ VI. Vào đầu thế kỷ VII, vua Sambhuvarman cho xây dựng lại ngôi đền thờ Bhadresvara với tên mới là Sambhu - Bhadresvara.
- Từ đó cho đến thế kỷ XIII, các vua kế tiếp đều cho tu sửa các đền tháp cũ, xây dựng các đền tháp mới để dâng lên các vị thần của họ.
- Phần lớn các ngôi đền lớn ở Mỹ Sơn được xây dựng để thờ thần Siva dưới các tên gọi khác nhau, một số nhà nghiên cứu cho rằng ban đầu vị thần chính của Mỹ Sơn chỉ mang tính chất địa phương, phải đến thế kỷ XI, vị thần chủ ở Mỹ Sơn với tên gọi Srisana-Bhadresvara mới trở thành thần chủ của toàn Vương quốc Champa. Căn cứ vào vị trí phân bố của các tháp, H. Parmentier đã đặt tên cho các tháp theo mẫu tự Latin:
- Nhóm A và A/ (nhân dân địa phương thường gọi là tháp Chùa) gồm có 17 công trình.
- Các nhóm B, C, D (khu tháp Chợ) có 27 công trình.
- Các nhóm E, F (khu tháp Hố Khế) có 12 công trình.
- Nhóm G có 5 công trình.
- Nhóm H (tháp Bàn Cờ) có 4 công trình.
- Các công trình riêng lẻ: K, L, M, N.
Cách đặt tên này chỉ mang tính chất quy ước để phân biệt các tháp cho tiện việc nghiên cứu chứ nó hoàn toàn không có ý nghĩa về mặt niên đại.
Với hơn 70 công trình kiến trúc được xây dựng từ thế kỷ IV đến thế kỷ XIII, Mỹ Sơn là thánh địa Ấn độ giáo quan trọng nhất của Vương quốc Chămpa, tại đây chúng ta có thể tìm thấy hầu hết các phong cách kiến trúc trong nghệ thuật Chămpa. Theo P.Stern, có thể chia ra:
+ Phong cách cổ (hoặc phong cách Mỹ Sơn E1) : Thế kỷ VII - đầu thế kỷ VIII, gồm các tháp E1, F1.
+ Phong cách Hòa Lai : thế kỷ VIII - nửa đầu thế kỷ IX, gồm các tháp A2, C7, F3.
+ Phong cách Đồng Dương : giữa thế kỷ IX - đầu thế kỷ X, có các tháp A10, A11, A13, B4.
+ Phong cách Mỹ Sơn A1 : thế kỷ X, với các tháp A1, B2, B3, B5, B6, B8, C1, C2, C4, C5, C6, D1, D2, D4, E7.
+ Phong cách Pô-Nagar : thế kỷ XI, gồm các tháp E4, F2.
+ Phong cách Bình định : thế kỷ XII-XIII, có tháp B1, các tháp nhóm G, H, K...
Đền tháp ở Mỹ Sơn được bố trí theo một tổng thể:
- Đền thờ chính (Kalan) nằm ở giữa, tượng trưng cho núi Mê - ru - theo quan niệm Ấn Độ giáo, đây là trung tâm vũ trụ, nơi ngự trị của thần linh - Thông thường có một cửa ra vào ở hướng Đông.
- Tháp cổng (Gopura) nằm ngay phía trước Kalan, có 2 cửa thông nhau ở hướng đông và hướng tây.
- Mandapa là ngôi nhà dài tiếp theo tháp cổng, dùng làm nơi đón tiếp khách hành hương, tiếp nhận lễ vật.
- Cạnh đền thờ chính là ngôi tháp có 1 hoặc 2 phòng, cửa ra vào ở hướng Bắc, dùng làm nơi cất giữ các đồ tế lễ gọi là Kosagraha.
- Ngoài ra, quanh Kalan còn có những tháp phụ để thờ các vị thần Phương hướng (Dikpalaka), các vị thần Tinh tú (Grahas), hoặc các vị thần phụ như Skanda, Ganesa...
+ Nhóm A : gồm 13 đền tháp, từ A1 đến A13, nằm ở phía đông-nam trong thung lũng Mỹ Sơn.
- Ngôi đền chính (Kalan) A1 được các nhà nghiên cứu đánh giá là kiệt tác của nghệ thuật kiến trúc Chămpa, nhưng tiếc thay nó đã bị bom Mỹ đánh sập vào năm 1969. Theo bản vẽ và khảo tả của H.Parmentier, tháp A1 cao 24 m, mỗi cạnh 10m, có 2 cửa ra vào hướng đông và tây, thân tháp cao vút, thon thả. Mỗi mặt tường có 5 trụ ốp, các trụ ốp tường có một đường rãnh sâu ở giữa chạy suốt từ chân đến đỉnh trụ, các trụ gạch này được chạm các dải hoa văn cành lá cách điệu, bố trí thành những hình chữ S nối tiếp nhau. Trên các mặt tường giữa các trụ ốp cũng được chạm những tràng cành lá uốn cong. Trên hai mặt tường phía nam và phía bắc có các cửa giả nhô ra, được tạo nên bởi 2 trụ hình chữ nhật đỡ lấy một vòm cuốn cong và nhọn ở trên đỉnh, bên trong ô cửa giả có hình một người đứng chắp tay được chạm thẳng vào tường gạch. Mái tháp gồm 3 tầng thu nhỏ dần lên trên, tầng trên được mô phỏng theo tầng dưới, ở 4 góc của mái trang trí những hình tháp thu nhỏ. Trên đỉnh là một chóp tháp bằng sa thạch. Chân tháp được trang trí những đường gờ kỷ hà dạng những tầng sen cách điệu, kết hợp với những hình người, voi, Garuda... chạm trên gạch rất sống động. Sự kết hợp giữa khối kiến trúc đồ sộ nhưng dáng vẻ nhẹ nhàng thanh thoát với nghệ thuật điêu khắc tinh tế trên gạch và đá, những tràng cành lá mềm mại, những hình người và động vật... đã hình thành nên một phong cách nổi tiếng của nghệ thuật Chămpa vào thế kỷ X - phong cách Mỹ Sơn A1.
Quanh đền thờ A1 có 6 tháp nhỏ, ký hiệu từ A2 đến A7, thờ các vị thần Phương hướng (Dikpalaka) :
- Tháp A2 : hướng tây-nam, thờ thần Brahma - Đấng sáng tạo thế gian.
- Tháp A3 : hướng nam, thờ Diêm Vương Yama.
- Tháp A4 : hướng đông-nam, thờ thần lửa Agni.
- Tháp A5 : hướng đông-bắc, thờ thần Isana (một tên khác của thần Siva).
- Tháp A6 : hướng bắc, thờ thần Tài lộc Kuvera.
          - Tháp A7 : hướng tây-bắc, thờ thần Gió Vayu.
Các tháp này có niên đại cùng thời với tháp A1 (thế kỷ X).
- Tháp A8 : là tháp cổng (Gopura) của đền thờ A1.
- Tháp A9 : ngôi nhà dài để đón khách hành hương (Mandapa).
- Tháp A10 : nằm ở phía bắc tháp A1, là một ngôi đền khá lớn, cũng đã bị sập trong chiến tranh, hoa văn trang trí trên tường tháp là những cành lá cách điệu xoắn xít dạng vết sâu bò, loại hoa văn đặc trưng của phong cách Đồng Dương (từ giữa đến cuối thế kỷ IX).
- Các tháp từ A11 đến A13 là các tháp phụ, làm dùng nơi cất giữ đồ tế lễhoặc thờ các vị thần khác.
+ Nhóm A/ : gồm có 4 công trình, nằm ở phía nam của khu A, đây là những đền thờ nhỏ, tất cả các tháp đều có cửa ra vào ở hướng tây, quay về phía khu trung tâm.
Khu B, C, D nằm ở trung tâm, là nơi tập trung nhiều tháp nhất trong di tích Mỹ Sơn, bị phân tách ra khỏi nhóm A-A/, vì vậy chắc hẳn xưa kia các nhóm tháp này ít nhiều có quan hệ với nhau.
+ Nhóm B : gồm có 14 đền tháp.
- Tháp B1 : là ngôi đền chính của nhóm B, hiện nay chỉ còn lại phần chân tháp bằng sa thạch, gồm nhiều tảng đá vuông vức ghép lại với nhau. Căn cứ vào tấm bia tại tháp B1 có niên đại năm 1234 - triều vua Paramesvaravarman - có thể biết đây là ngôi tháp cuối cùng được xây dựng ở Mỹ Sơn. Một số người cho rằng tháp B1 bị sụp đổ sau thế kỷ XIII, nhưng căn cứ vào 8 trụ đá lớn nằm ở cạnh tháp mà H.Parmentier ký hiệu là B14; đồng thời quan sát phần chân tháp, bên dưới những tảng đá là những hàng gạch, chúng tôi nghĩ rằng ngôi đền B1 đã được xây dựng trong thời kỳ trước thế kỷ XIII, có thể là thế kỷ X hoặc sớm hơn nữa, thoạt tiên ngôi tháp này được xây bằng gạch, sau đó bị sụp đổ, đến thế kỷ XIII, nó được xây dựng lại bằng sa thạch, nhưng do một biến cố nào đó, ngôi tháp cuối cùng ở Mỹ Sơn đã không được hoàn thành. Theo mặt bằng hiện tại của tháp B1, mỗi cạnh hơn 10m, nếu được xây dựng hoàn chỉnh, có lẽ B1 đã trở thành ngôi tháp lớn nhất ở Mỹ Sơn.
- B2 là tháp cổng của đền thờ B1.
- B3 là đền thờ thần Ganesa - thần Hạnh phúc. Tháp còn tương đối nguyên vẹn nhưng đã bị nghiêng về một bên, đây là kiểu tháp đặc trưng của kiến trúc Chămpa. Một số nhà nghiên cứu cho rằng đây là hình ảnh của tháp A1 thu nhỏ. Theo kiểu dáng tháp và hoa văn trang trí trên tường, thì tháp B3 được xây dựng vào khoảng giữa thế kỷ X.
- Tháp B4 thờ thần Skanda - vị thần chiến tranh, con trai cả của thần Siva - Toàn bộ phần trên của tháp đã bị đổ, cửa ra vào còn lại 2 trụ sa thạch hình bát giác. Trên tường tháp trang trí các dải hoa văn cành lá xoắn xít hình vết sâu bò, kiểu hoa văn đặc trung của phong cách Đồng Dương. Ngôi tháp này được xây dựng vào khoảng giữa đến cuối thế kỷ IX. Trong tháp có một bệ thờ được trang trí bằng nhữngđường gờ đơn giản.
- Tháp B5 là nơi cất giữ đồ cúng tế của nhóm tháp B, mặc dù là công trình phụ, nhưng đây là tháp đẹp nhất trong nhóm B. Tháp có mặt bằng hình chữ nhật, kéo dài theo trục đông-tây; cửa ra vào ở hướng bắc, nằm ở phần nửa mặt từng ở phía tây. Trên tường tháp chạm những dải hoa văn hình cành lá cuộn tròn liên hoàn, trong những ô cửa giả có hình người đứng chắp tay được chạm trên tường gạch, đầu tượng được làm bằng sa thạch. Trên mặt tường phía đông và tây, mỗi bên trổ một ô cửa sổ, song cửa sổ là 3 trụ đá hình con tiện, phía trên cửa sổ có vòm cuốn, bên trong mỗi vòm cuốn chạm hình 2 con voi đứng đấu vòi dưới một tán cây. Mái tháp là một tầng thu nhỏ mô phỏng phần thân tháp, đỉnh tháp cong hình thuyền (hoặc hình yên ngựa), được xếp bằng gạch. Tháp B5 có niên đại khoảng thế kỷ X.
- Tháp B6 nằm đối diện tháp B5, cửa ra vào ở hướng nam. Trong tháp có một bồn nước cạn hình ô-van, được làm bằng sa thạch; các nhà nghiên cứu cho rằng đây là vật đựng nước để làm lễ Thánh tẩy (tắm rửa cho các pho tượng thần), dường như đây là hiện vật duy nhất theo kiểu này được tìm thấy ở vùng Đông Nam Á. Trên vòm cửa ra vào có hình thần Vishnu ngồi trên lưng rắn thần Naga, rắn có 13 đầu vươn lên che phía trên thần Vishnu.
- Các tháp nhỏ chung quanh từ B7 đến B13 là tháp thờ các vị thần Tinh tú (Grahas), gồm có thần Mặt trời Surya, thần Mặt trăng Sandra, thần Sao Hỏa Agni, thần Sao Thuỷ Varuna, thần Sao Mộc Indra, thần Sao Kim Isana và thần Sao Thổ Yama. Chúng cũng tượng trưng có 7 ngày trong tuần theo lịch Saka của vùng Nam Ấn Độ (1).
+ Nhóm C : gồm 7 đền tháp, nằm ở hướng bắc nhóm B.
- Tháp C1 là đền thờ chính của nhóm C, có tiền sảnh khá dài, mái tháp và mái tiền sảnh đều cong hình thuyền chứ không phải là mái nhọn nhiều tầng như các Kalan khác. Trên hai mặt tường phía nam và bắc có các trụ ốp tường và các ô cửa giả, trong các ô cửa giả là những hình người đứng chắp tay được tạc vào tường gạch. Bên trong tháp thờ một bộ Linga - Yoni nhỏ. Tại đây trước kia người ta cũng tìm được một pho tượng thần Siva đứng, phản ánh một kiểu thờ cúng khá đặc biệt tại Thánh địa Mỹ Sơn : vừa thờ tượng chân dung của một vị vua Champa dưới hình ảnh thần Siva, vừa thờ Linga của thần.
- C2 là tháp cổng của đền thờ C1.
- Tháp C3 được dùng làm nơi cất giữ đồ cúng tế, cửa ra vào ở hướng bắc.
- Các tháp C4, C5, C6 là những tháp phụ xếp thành một hàng theo trục đông - tây.
- Thap C7 : ngoài 2 tháp E1 và F1 đã bị sập, C7 là tháp có niên đại sớm nhất còn tồn tại ở Mỹ Sơn. Ngôi tháp này thuộc dạng tháp lùn như tháp Nam của nhóm tháp Hòa Lai (thế kỷ VIII-nửa đầu thế kỷ IX). Trong tháp có một bệ thờ Linga-Yoni nhỏ, Tại tháp này vào năm 1904, các nhà khảo cổ Pháp đã tìm được một bộ trang phục bằng vàng dành cho một pho tượng thần lớn cỡ 1/2 người thường, gồm có mũ, nịt, miếng hộ tâm...nó đã được trưng bày tại hội chợ Marseille năm 1926.
Trừ tháp C7, các tháp ở nhóm C đều được xây dựng vào thế kỷ X.
+ Nhóm D : gồm có 6 tháp, nằm ở phía đông nhóm B và C.
- D1 và D2 không theo kiểu tháp truyền thống của kiến trúc Chămpa, đó là hai ngôi nhà dài, mặt bằng hình chữ nhật, cửa ra vào ở hai đầu hồi nhà hướng đông và hướng tây, phần ái được lợp ngói, đã bị đổ từ lâu. Trên hai mặt tường phía bắc và phía nam có những trụ ốp tường, mỗi mặt tường có 3 ô cửa sổ, song cửa sổ là những trụ đá hình con tiện. Trên tường tháp D1 có chạm trổ hoa văn và những hình người đứng chắp tay trong các ô cửa giả; tháp D2 được trang trí đơn giản hơn. Theo các nhà nghiên cứu thì tháp D1 có niên đại sớm hơn tháp D2 và là một trong những tháp được xây dựng vào đầu thế kỷ X.
Việc phân chia ra nhóm D thực ra không hợp lý, vì D1 là nơi đón tiếp khách hành hương và chuẩn bị đồ tế lễ cho đền thờ B1, còn D2 là mandapa của đền thờ C1 (1).
- Các tháp D3, D4 là những công trình phụ, có kích thước nhỏ, D5 và D6 là hai ngôi nhà dài đã bị sụp đổ từ lâu.
+ Nhóm E : gồm 9 công trình, nằm ở phía bắc nhóm A và nhóm G.
- Đền thờ E1 có cửa ra vào ở hướng tây chứ không phải hướng đông như các Kalan khác. Mặt bằng tháp hình vuông, 4 góc có 4 trụ đá được điêu khắc khá đẹp. Ngôi đền đã bị sụp từ lâu, nhưng theo các nhà nghiên cứu thì có lẽ phần mái ngôi đền được làm bằng gỗ lợp ngói; không có cửa giả chung quanh. Trên mi cửa có một bức phù điêu bằng sa thạch thể hiện cảnh "Đản sinh Brahma"; theo J.Boisselier thì những đặc điểm trang trí trên các nhân vật trong bức phù điêu này rất gần gũi với truyền thống Dvaravati (1) - một nền nghệ thuật ở Thái Lan vào thế kỷ XI.
Bên trong ngôi đền E1 có một đài thờ lớn được làm bằng những khối sa thạch ghép lại với nhau, được chạm trổ rất tinh tế, thể hiện những cảnh múa lụa, đánh đàn, thổi sáo, những cảnh sinh hoạt của các tu sĩ Bà-la-môn như luyện thuốc chữa bệnh..., những cảnh này nằm trong các ô riêng được phân cách bởi các dải hoa văn, là những tràng cành lá cách điệu kết hợp với những đường cong, những ô trám lồng, và những đoá hoa 4 cánh tạo thành hồi văn. Ph.Stern cho rằng cách trang trí này chịu ảnh hưởng nghệ thuật Ajanta (Ấn Độ), còn theo J.Boisselier là gần gũi với truyền thống Dvaravati (1) do đó niên đại của đài thờ này được xác định vào khoảng giữa thế kỷ VII. Chính đài thờ này đã định hình cho phong cách Mỹ Sơn E1 - phong cách cổ của nghệ thuật Chămpa.
- Tháp cổng E2 ở về phía tây của đền thờ E1.
- Tháp E3 là nơi chuẩn bị đồ tế lễ.
- Tháp E4 có kích thước khá lớn, nằm cạnh tháp E1 về phía bắc. Tường tháp không trang trí hoa văn, ngôi đền đã bị sụp đổ trong chiến tranh. E4 được xây dựng vào khoảng đầu thế kỷ XI.
- Các tháp E5, E6, E7 xép thành một hàng ngang ở phía nam tháp E1. Tại tháp E5, vào năm 1903, người ta đã tìm thấy một pho tượng thần Ganesa đứng có 4 tay, pho tượng này được định niên đại vào khoảng cuối thế kỷ VII - đầu thế kỷ VIII, đây là một tác phẩm rất hiếm hoi trong nghệ thuật Ấn Độ giáo. Hầu hết các tháp trong nhóm này đã bị sụp đổ.
Công trình còn tương đối nguyên vẹn là tháp E7, tháp này có mái cong hình thuyền, kéo dài theo trục đông-tây, cửa ra vào ở hướng bắc, đây là nơi cất giữ đồ tế lễ của nhóm E, niên đại của tháp này vào khoảng cuối thế kỷ X.
+ Nhóm F : gồm có 3 công trình kiến trúc, nằm ở phía bắc nhóm E. Đây là một tổng thể tháp đơn giản, với tháp chính F1, tháp cổng F2 và một tháp phụ nhỏ F3 nằm ở phía nam tháp F1. Tất cả đã bị tàn phá nặng nề trong chiến tranh. Đền thờ F1 có cửa ra vào ở hướng tây, trụ ốp tường dạng tròn, không trang trí hoa văn. Chân tháp có nhiều đường gờ chồng lên nhau, trang trí bằng những họa tiết cánh sen, hình vuông và hình tam giác. Trên đầu cột của những cửa giả có hình mặt Kala. Niên đại của tháp F1 khoảng cuối thế kỷ VII -  đầu thế kỷ VIII.
+ Nhóm G : gồm có 5 tháp, nằm trên một ngọn đồi thấp giữa nhóm A và nhóm E.
Nhóm tháp này đã bị hư hại nặng nề; chỉ còn lại đền thờ G1, nhưng phần mái của nó cũng bị đổ. Đây là một đền thờ khá đặc biệt, với cửa chính mở về hướng tây và tiền sảnh có 2 cửa ra vào phụ ở hai bên; trên các cửa ra vào và cửa giả có các vòm cuốn hình mũi giáo, đó là đặc trưng của phong cách Bình Định (thế kỷ XII-XIII). Trong vòm cửa ra vào có gắn một bức chạm nữ thần Laksmi bằng đất nung. Quanh chân tháp trang trí những mặt Kala bằng đất nung trong các ô hình vuông, tạo nên ấn tượng mạnh mẽ. Các góc tháp có những tượng sư tử bằng sa thạch.
+ Nhóm H : có 4 công trình, nằm trên một ngọn đồi thấp phía tây - bắc nhóm B, C, D. Nhóm tháp này gần như bị sụp đổ toàn bộ trong chiến tranh. Đền thờ H1 chỉ còn một mảng tường ở phía bắc, mà trên đó có một cửa giả và trụ ốp tường, vòm cuốn hình 3 mũi giáo chồng lên nhau theo phong cách Bình Định. Tại khu vực này, người ta đã tìm thấy một bức phù điêu lớn hình mũi giáo, thể hiện thần Siva có 8 tay; hai tay trái đưa lên khép lại ở đỉnh đầu, lòng bàn tay hướng về phía trước, một kiểu thức độc đáo trong nghệ thuật Champa; đây là tác phẩm điển hình của phong cách Bình Định.
+ Tháp K nằm cách xa nhóm E, F về phía bắc, bị hư hại khá nặng, tháp có vòm cửa hình mũi giáo đặt trên hai trụ gạch không trang trí hoa văn, trên vòm cửa giả có gắn một bức phù điêu bằng sa thạch chạm hình thần Brahma có 2 tay và 3 đầu (theo thần thoại, thần Brahma có 4 đầu, nhưng chiếc đầu thứ 4 không thể hiện trên phù điêu được).
+ Các tháp L, M, N nằm riêng lẻ, cách xa khu trung tâm, tất cả đã bị sụp đổ từ lâu.
Mỹ Sơn không chỉ được mọi người biết đến bởi các công trình kiến trúc, nơi đây còn nổi tiếng bởi hàng trăm tác phẩm điêu khắc vô giá. Nghệ thuật điêu khắc Champa là sự kết những yếu tố bản địa với các nền văn hóa bên ngoài một cách có chọn lọc và sáng tạo. Các tác phẩm điêu khắc được thể hiện trên gạch, đá nhưng không khô cứng, cái tài tình của những nghệ nhân điêu khắc Chăm xưa kia là đã biến những tảng đá vô tri thành những tác phẩm nghệ thuật sống động. Mỗi phong cách có một vẻ đẹp riêng, cho dù mỗi thời kỳ tư duy thẩm mỹ mỗi khác.
Phần lớn các tác phẩm điêu khắc được tìm thấy vào những năm đầu của thế kỷ XX, đã được mang về trưng bày tại Bảo tàng điêu khắc Chămpa Đà Nẵng.
Trong thời gian từ năm 1937-1944, Viện Viễn Đông Bác Cổ Pháp (Ecole Fransaise d/ Extrême Orient) đã trùng tu các tháp thuộc nhóm A, A/, B, C, D. Vì khu tháp có một con suối lớn chảy ngang qua, một trận lũ lớn đã phá sập tháp A9, do đó, năm 1939 người ta đã xây một đập nước để chuyển dòng con suối này, nhưng rồi một trận lũ lớn vào năm 1946 cũng đã cuốn trôi đập nước này.
  Theo thống kê của người Pháp, trước năm 1946, tại Mỹ Sơn còn khoảng 50 công trình kiến trúc khá nguyên vẹn, nhưng qua 2 cuộc chiến tranh, nhất là vào năm 1969, không quân Mỹ đã ném bom vào thung lũng Mỹ Sơn, làm cho khu di tích này đã bị tàn phá nặng nề, nhiều công trình kiến trúc đã bị đánh sập hoàn toàn, trong đó có ngôi đền A1 nổi tiếng.
  Sau năm 1975, ở Mỹ Sơn có khoảng 20 tháp còn giữ được hình dạng, nhưng không có cái nào còn nguyên vẹn. Từ năm 1980, trong chương trình hợp tác văn hóa Việt Nam - Balan, Tiểu ban Phục hồi các di tích Champa đã làm việc tại Mỹ Sơn, kiến trúc sư Balan Kazimierz Kwiatkowwski trực tiếp tham gia và chỉ đạo về mặt kỹ thuật. Sau 10 năm gia cố tu sửa, trung tâm kiến trúc bậc nhất của nghệ thuật Champa đã được hồi sinh, Mỹ Sơn đã được trả lại phần nào dáng vẻ ban đầu của nó, làm cho người ta có thể hình dung được một thánh địa uy nghiêm kỳ vĩ của Vương quốc Champa xưa kia. Trong thời gian này, nhiều tác phẩm điêu khắc có giá trị đã được tiếp tục tìm thấy, tất cả đang được trưng bày tại Mỹ Sơn. Khu đền tháp Mỹ Sơn đã được Bộ Văn hoá- Thông tin ra Quyết định số 54-VHQĐ ngày 29-4-1979 là Di tích kiến trúc nghệ thuật. Với giá trị vốn có của mình, ngày 04/12/1999 Khu đền tháp Mỹ Sơn được UNESCO công nhận là DI SẢN VĂN HÓA THẾ GIỚI.

                                        

 

 
dowload
file chi tiết
 
TIN NỔI BẬT
HÌNH ẢNH DI TÍCH
 
 
LẦN TRUY CẬP: 63663
 
---------
Điện thoại: 0510.813199-813071-810434, Fax: 0510.810433
Địa chỉ: 1A-Lê Đình Dương-Tam Kỳ-Quảng Nam.
© Bản quyền TRUNG TÂM BẢO TỒN DI SẢN-DI TÍCH QUẢNG NAM